Ích lợi của vừng
Vừng (còn gọi là mè) có tên khác là du từ miêu, cự thắng từ, hắc chi ma, hồ ma. Vừng có thân cây nhỏ, có rất nhiều lông, sống quanh năm, được trồng khắp mọi nơi trong nước, có nơi được trồng theo thời vụ xen kẽ trồng lúa, thu hoạch vào các tháng 7, 8 và 9 trong năm, thu lấy toàn cây, phơi khô, đập, sàng lấy hạt.
- Cháo vừng tốt cho phụ nữ sau sinh
- Xôi vừng nước cốt dừa
- Lưu ý khi ăn gạo lứt muối vừng
Có hai loại vừng: hạt vàng và hạt đen, cả hai đều có tác dụng tốt trong điều trị các bệnh về nội khoa, đặc biệt với bệnh tim mạch và đại tràng thể táo.
Trong hạt vừng có chứa 40-55% dầu, có khi lên đến 60%, 20% protein, các vitamin B1, B2, PP... Dầu vừng rất giàu các acid amin, đặc biệt là vừng đen, các acid amin cao nhất.
Theo Đông y, vừng có vị ngọt, béo, tính bình, không độc, đi vào 4 kinh của cơ thể là phế, tì, gan và thận. Vừng có tác dụng bổ gan, bổ thận, tăng hồng cầu, rất tốt trong điều trị táo bón, nhuận gan mật và lợi tiểu. Với thương tổn nhẹ do bỏng, thì lấy vừng sống giã nát, đắp lên chỗ bỏng. Vừng đắp chữa nhọt lở (liều 4 - 12g). Nước sắc (nấu) từ lá và rễ vừng dùng làm thuốc mọc tóc và giữ đen tóc. Dầu vừng còn làm thuốc nhuận tràng (trường)... Trong điều trị cao huyết áp, người ta dùng vừng đen, hà thủ ô, ngưu tất (các vị lượng bằng), đem tán nhỏ, trộn mật ong vò thành viên. Mỗi ngày uống 3 lần (bằng 10g).
Bác sĩ Trang Xuân Chi
Nguồn: Thanh niên Online
0 Response to "Ích lợi của vừng"
Đăng nhận xét