Chất dinh dưỡng cần thiết của người mẹ trong thời kỳ mang thai
Chế độ ăn uống của người mẹ khi có thai, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của thai nhi. Có một số thức ăn, bạn ăn vào có lợi cho con, một số lại gây hại, một số chỉ làm cho bạn mập thêm mà chẳng giúp nhiều cho con bạn. Vì vậy, nguyên tắc chung về ăn uống trong thời gian mang thai bạn cần nhớ là nhất thiết phải ăn uống thêm với điều kiện thường xuyên bảo đảm đầy đủ về lượng và chất; trong những bữa ăn ngon miệng, và những thức ăn "cần " ăn và không quên một số thức ăn, đồ uống cần tránh (kích thích, lâu tiêu, gây độc hại cho con...).
Tuy vậy, những tháng đầu, đa phần người có thai thường chán ăn, hay nôn và rất thích ăn của chua như khế táo me, hoặc có người lại ăn cả vôi tường, và nhiều thứ khác lạ... Người ta gọi là "ăn dở". Ðó là do sinh lí đang thay đổi (như ốm nghén) và cơ thể đang thiếu chất.
Sau thời gian nghén, cơ thể người mẹ sẽ thích nghi và ăn uống dần trở lại bình thường. Cũng có trường hợp nghén rất nặng, kéo dài, khiến người mẹ không ăn uống được, nôn nhiều, sức khỏe yếu hẳn. Gặp trường hợp này bạn cần đến thầy thuốc chuyên khoa, để kịp thời có biện pháp xử lý thích hợp.
Nhu cầu dinh dưỡng ở người mẹ mang thai
Năng lượng. Với người mẹ có thai, đặc biệt trong ba tháng cuối, cần bảo đảm mức ăn thêm nhiều hơn trước để tăng nhiệt lượng khoảng 350kcal/ngày, có nghĩa là nhu cầu năng lượng cần cung cấp tối thiểu phải đạt được từ 2400-2500kcal/ngày.
Muốn vậy, trước hết trong mỗi bữa ăn cần cung cấp đủ năng lượng, đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.
Nguồn năng lượng trong bữa ăn ở ta chủ yếu từ lương thực như gạo, ngô, mì... Các loại khoai, củ cũng là nguồn năng lượng nhưng ít chất prôtêin, chỉ nên ăn khi quá thiếu gạo, mì.
Chất prôtêin. Khi mang thai, nhu cầu chất prôtêin ở người mẹ tăng lên cùng với sự phát triển của thai một phần để tổng hợp chất protêin cho cơ thể mẹ để tăng lượng máu, giúp cho tử cung, vú phát triển và tích lũy mỡ... đồng thời còn phải cung cấp protêin cho thai cùng nhau thai hình thành và phát triển. Lượng chất protêin trong khẩu phần mỗi ngày của người mẹ có thai cần khoảng 70g-90g. Các loại thức ăn động vật như thịt, cá, trứng, sữa có nhiều chất protêin tốt.
Nhiều loại thức ăn thực vật cũng giàu chất protêin, đó là các loại họ đậu (đậu tương, đậu xanh, đậu đen, lạc, vừng và lương thực). Hàng ngày để đủ lượng protêin, bạn có thể có được:
ở rau. Tuy trong rau có ít protêin nhưng nếu bạn ăn mỗi ngày 300-400g rau cũng chắc chắn có thêm 5-10g protêin. Nếu loại rau tốt thì lượng protêin cao hơn (đậu đỗ, giá đỗ, rau ngót, rau rút...). ở gạo mới (mới thu hoạch, mới xay xát) có nhiều chất khoáng, vitamin B1 và chất protêin.
Nếu không chú ý, thường xuyên ăn gạo xấu, gạo để lâu gạo giã quá trắng làm cho cơ thể bị thiếu protéin, thiếu dinh dưỡng kéo dài có thể bị tê phù vì thiếu vitamin B1, thậm chí còn bị thiếu máu do thiếu các chất khoáng giúp cho việc tạo máu.
Vì thế với các bữa ăn ít thịt, trứng, đậu... thì bạn càng cần phải chú ý tới khâu chọn gạo. Gạo phải đạt chất lượng tốt, nếu không sẽ xuất hiện các nguy cơ thiếu máu, thiếu dinh dưỡng từ việc ăn gạo kém phẩm chất.
ở đậu lạc vừng. Trong bữa ăn có bổ sung thêm đậu hoặc lạc, hoặc vừng cũng sẽ cho ta một lượng protêin nhất định. 50-100g đậu (lạc, vừng) sẽ cho ta được 15-25g protêin.
- ở thịt, cá cua, ốc, tôm, trứng, sữa. Có nguồn protéin động vật chất lượng cao. Tốt nhất, nếu được 50% chất protêin từ nguồn thức ăn động vật thì bữa ăn sẽ đạt chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của bà mẹ mang thai.
Chất lipít. Dầu, mỡ cung cấp năng lượng rất lớn chỉ cần 20g dầu mỡ đã thêm được gần 200 kcal. Với người mẹ có thai, dầu mỡ không chỉ có tác dụng giúp cho việc hấp thu các vitamin A, D, E mà còn có tác dụng bảo vệ thai, giúp cho thai chóng lớn, còn mẹ thì khỏe mạnh.
Nhu cầu chất béo cho một phụ nữ có thai mỗi ngày cần khoảng 30% năng lượng.
Cách ăn dầu tốt nhất là trộn lẫn vào rau (salat). Ngoài ra còn có thể dùng dầu mỡ để xào, rán... làm các món ăn, có tác dụng tạo mùi thơm, kích thích ăn ngon miệng. Tuy vậy, với dầu làm thế lại mất nhiều vitamin; các món ăn xào rán, với phụ nữ có thai thường gây lâu tiêu, ợ nóng, nếu ăn thường xuyên cũng không tốt.
+ Vitamin, chất khoáng và các yếu tố vi lượng. Trong thời kỳ có thai, người mẹ cần được cung cấp đầy đủ các loại vitamin cần thiết giúp cho sự cân bằng của cơ thể và thai nhi phát triển tốt.
Vitamin C giúp người mẹ có được sức đề kháng của cơ thể, và giúp hấp thụ tốt chất sắt. Vitamin C mất nhiều nếu tồn trữ thức ăn lâu dài và nấu nướng không đúng kỹ thuật, vì thế bạn nên dùng rau tươi non và quả tươi, chín có nhiều vitamin C. Vitamin C trong quả tươi là nguồn vitamin tốt nhất.
Vitamin B2 và betacaroten. Các loại rau màu xanh đậm có nhiều vitamin B2 và betacaroten. Nếu ăn ít rau thì cần ăn thêm hoa quả chín: đu đủ, ổi, xoài, chuối, na... vì rau quả không chỉ cung cấp các chất dính dưỡng, các vitamin mà còn có tác dụng giúp tiêi hóa tốt. Bởi khi mang thai, bạn rất dễ bị táo bón, nên trong bữa ăn hàng ngày của bạn, cần một lượng chất xơ đáng kể để phòng chống táo bón.
Canxi. Khi mang thai, cơ thể người mẹ cần một lượng canxi gấp đôi lúc bình thường (giúp cho việc tạo xương thai). Thai càng lớn càng đòi hỏi phải cung cấp nhiều chất canxi. Nếu cơ thể người mẹ không đáp ứng được sẽ lâm vào tình trạng thiếu hụt canxi. Vì thế trong ăn uống, bạn nên chú ý tới các loại thức ăn có nhiều canxi, phốt pho như phomát, sữa, cá, cua... các hạt họ đậu, trứng...
Axit folic (B9). cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh trung ương của thai, đặc biệt là trong những tuần lễ đầu tiên. Trong thời gian mang thai, cơ thể người mẹ cần B9 gấp nhiều lần so với lúc bình thường, trong khi đó với dưỡng chất này cơ thể lại không tích trữ được vì vậy cần phải cung cấp đều đặn.
B9 có nhiều trong các loại rau xanh lá to, màu xanh đậm: mùng tơi, cải xanh, cải cúc... hoặc lạc, hạt dẻ...
Vi chất sắt. Trong thời kỳ mang thai, nhu cầu sắt cần nhiều hơn, để cơ thể người mẹ có đủ sức thỏa mãn sự phát triển nhanh chóng của tiến trình thai nghén, và mọi nguy cơ mất máu lúc chuyển dạ. Hơn nữa, thai rất cần sắt để phát triển và để tạo vốn dự trữ dành cho sau khi ra đời (6 tháng đầu tiên).
ở Phụ nữ có thai, tổng lượng sắt cần cho thai nghén: 500-600mg. Nhu cầu hấp thu sắt khi có thai từ qúy thứ III (ba tháng cuối) của thai kỳ là 3 mg/ngày: Sắt gốc động vật dễ hấp thu hơn sắt gốc thực vật (đậu hạt và trái cây khô), vì thế bạn nên chú ý tới các thức ăn giàu sắt gốc động vật như thịt nạc, cá ngừ, gan, lòng đỏ trứng... Tuy vậy, cũng không quên các loại đậu, đỗ mơ, nho khô, rau quả.
Theo con số thống kê của Vụ Chăm sóc bà mẹ- trẻ em (Bộ Y tế) năm 1998 tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn xấp xỉ con số 40%. Gần 60% bà mẹ có thai bị thiếu máu dẫn đến hậu quả trong số 1,7 triệu trẻ em mới sinh có l0% trẻ em suy dinh dưỡng (có trọng lượng dưới 2500g). 50% trẻ tử vong có liên quan đến thiếu cân và suy dinh dưỡng.
Người mẹ có thai nếu thiếu máu thường có hiện tượng mệt mỏi, chóng mặt, hoa mắt, khó thở khi chỉ hơi gắng sức và dễ có tai biến, rủi ro khi đẻ. Tỉ lệ tử vong ở sản phụ thiếu máu khi đẻ cao hơn hẳn những sản phụ bình thường.
Ðứa con thiếu máu thường nhẹ cân, ra đời sớm (đẻ non) và có tỉ lệ tử vong sơ sinh cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường do mẹ bị thiếu sắt nên lượng dự trữ sắt ở cơ thể trẻ thấp.
Vì vậy để cho đứa con sinh ra được khỏe mạnh, bạn cần có một chế độ ăn với những thực phẩm giàu sắt đã nói trên (nếu thật cần thì có thể điều trị bằng các chế phẩm có sắt theo chỉ định của thầy thuốc).
Nguồn sắt từ cơ thể mẹ sẽ truyền sang con, hạ tỉ lệ đẻ non. Chú ý tới điều này không chỉ tăng cường tốt sức khỏe cho mẹ mà còn là một cách có hiệu quả phòng chống thiếu máu do thiếu sắt cho trẻ em sớm ngay từ thời kỳ bào thai.
Chú ý. Ðể kịp thời phòng chống thiếu sắt có hiệu quả, ngoài chế độ ăn uống hợp lý, khi có thai từ tháng thứ 6 trở đi, bạn nên uống viên sắt và 1 axitfolic (loại viên có hàm lượng ferơsunfat 200mg và axitfolic 0,25mg). Ngày uống 2 viên sau bữa ăn. Uống liền trong 3 tháng cuối của thời mang thai nghén (180 viên trong 90 ngày).
Hiện nay ở nước ta đang có Chương trình cấp phát viên sắt và axztfohc cho phụ nữ có thai. Bạn nên quan tâm để uống cho đủ liều mới có kết quả tốt. Và luôn không quên ăn đủ lượng rau quả cần thiết để tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng khác.
Ghi Chú: Viên sắt bình thường có vị tanh, dễ hút ẩm, khó bảo quản, khi uống dễ bị nôn nao, khó chịu một số chị em còn bị táo bón hoặc đi tiêu lỏng, có người còn thấy nóng cổ, đau bụng...
Vì những tác dụng phụ này cộng với thời gian uống quá dài (90 ngày) nên qua thực tế cho thấy, một số đã không uống đủ liều. Vì vậy, để bảo đảm uống đủ liều, bạn cần phải nhận thức được tác dụng tích cực kịp thời, mang tính cấp bách của viên sắt trong việc phòng chống thiếu máu ở số đông phụ nữ có thai và trẻ em nước ta hiện nay.
Bạn uống đủ liều viên sắt sẽ có kết quả rất tốt. Ðiều đó không chỉ có lợi cho tình trạng sức khỏe của bạn trong thời kỳ mang thai, mà còn đặc biệt quan trọng với đứa con của bạn nữa!
+ Trong các loại thức ăn cần ăn với một tỷ lệ cân đối hợp lý chất dinh dưỡng, khi có thai, bạn cần đặc biệt lưu ý tới các loại thức ăn giàu sắt (đã nói trên, cả động vật lẫn thực vật cũng như với một lượng cần thiết rau quả tươi để tăng cường khả năng hấp thu sắt nhờ tăng lượng vitamin C có từ rau quả.
Rau - quả, dầu - mỡ có vị trí rất quan trọng trong chế độ ăn uống của phụ nữ có thai. Hàng ngày, với lượng rau-quả khoảng 300-500g là đáp ứng đủ nhu cầu các loại vitamin A, B2, C, muối khoáng và xơ. Nhưng cần chọn quả tươi, chín; rau tươi non vừa nhiều dinh dưỡng, vừa ít chất xơ, có lợi hơn cho tiêt hóa, hấp thu.
Nếu bạn không có thói quen ăn thịt... hoặc vì điều kiện kinh tế khó khăn thì rất nên chú ý phối hợp thức ăn giàu sắt với giàu vitamin để có điều kiện hấp thu dược tố đa lượng sắt đã có trong thực phẳm. Ðó là cách tốt nhất, để phòng chống thiếu máu trong thời kỳ có thai.
Vì thế khi có thai, người mẹ rất cần chú ý theo dõi các biểu hiện thiếu máu. Tốt nhất nên thử máu nếu có chậm nhất cũng chỉ nên vào tháng thứ 4 sai khi có thai để còn kịp thời có biện pháp xử lý.
Những chú ý trong ăn uống của người mẹ mang thai
�n đủ chất và ngon miệng với người mẹ là rất cần thiết để tăng hiệu quả hấp thu các chất dinh dưỡng, để bảo đảm đủ lượng calo cần thiết cho sức khỏe của cả mẹ lẫn con. Muốn vậy, người mẹ cần chú ý tới thay đổi thực phẩm, cách chế biến các món ăn, kỹ thuật nấu nướng, sử dụng gia vị (rau có thể luộc hoặc trộn dầu, giấm, nấu canh chua, rau muối chua, rau trộn nộm... các loại gia vị, các loại rau thơm...).
Khi có nghén một số người thường thích ăn chua. Thấy vậy cũng chớ ngại và cũng không nên xem ăn chua là điều gở. Các thức ăn chua thường có chất khoáng, axit ascobic lại giúp cho chuyển hóa, hấp thu tốt chất đường-bột, và đó cũng chính là những chất bị thiếu hụt lúc mang thai.
Nếu nhà có vườn, bạn có thể thay đổi các rau trồng theo mùa vụ với đậu đỗ, rau giền, rau muống, rau ngót, rau lang, rau bí, dưa đều rất tốt. Thậm chí một số rau dại (mọc tự nhiên) như giền cơm, rau dệu, rau sam, rau càng cua, lá vông... đều phù hợp với ăn uống của phụ nữ có thai. Chớ vì ngại chợ xa, khi vườn không có rau trồng mà lại coi thường các loại rau tự nhiên đã có sẵn trong vườn. So với, lúc bình thường, khi mang thai, người mẹ nhất thiết phải ăn thêm (cả về lượng và chất) trong bữa ăn chính hoặc các bữa phụ trong ngày, cũng như cần phải được nghỉ ngơi hợp lý.
�n thêm để:
-Lấy chất dinh dưỡng tạo nên thai nhi sau 9 tháng 10 ngày nặng khoảng 3kg (3 tháng đầu tăng 0,1kg, 3 tháng giữa tăng 0,9kg; 3 tháng cuối tăng 2kg).
- Lấy chất dinh dưỡng để tăng cường các cơ quan bảo vệ thai như tử cung và cổ tử cung to lên, sản sinh nước ối để giữ thai an toàn và nhau thai phá triển để nuôi thai... ít nhất sự tăng trưởng này cũng khoảng 3kg. Ngoài ra người mẹ còn cần dự trữ một lượng mỡ tối thiểu phải được 5kg để đủ sức khi đẻ và đủ nguyên liệu để tạo sữa nuôi con (trong sữa mẹ có 50% năng lượng là do chất béo).
Cho nên đến cuối thai kỳ, nếu bà mẹ tăng cân từ 10-12kg là tốt. Vì lẽ đó khi có thai, bạn cần kiểm tra cân nặng thông thường: 3 tháng đầu tăng độ 1kg; 3 tháng giữ tăng độ 4-5kg; 3 tháng cuối tăng 5 - 6kg: Quan trọng nhất là tăng cân ở 3 tháng cuối. nên thêm chính là tạo nguồn vật chất để bảo đảm sự tăng cân tốt cho cả mẹ lẫn con.
Tuy vậy, trong thực tế, không phải ai cũng ăn thên được (vì nhiều lý do). Vậy, với các trường hợp không ăn thêm, con có khỏe không?
Trả lời câu hỏi này, về lý thuyết và kết quả khoa học đã nghiên cứu thì chắc chắn nếu mẹ "ăn uốn không tốt" không ăn thêm thì trên 75% trẻ đẻ ra suy dinh dưỡng.
Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều người "không ăn thêm" theo nghĩa là ăn ít, hoặc ăn bằng lúc bình thường, con đẻ ra vẫn lớn, khỏe.
Có ba trường hợp không "ăn thêm" con vẫn khỏe.
+ Mẹ ăn uống bình thường, vốn đã đủ, nhưng trong thời gian có thai được nghỉ ngơi hợp lý, giảm lao động.
Bình thường năng lượng dùng cho lao động và nhiều hoạt động khác, lúc có thai năng lượng đó được dành cho thai nhi, nên nếu không ăn thêm mà giảm bớt lao động cùng các hoạt động khác cũng có tác dụng như nhau.
+ Mẹ không ăn được vì "nghén".
Trừ một số ít chị em bị nghén nặng, có khi sảy thai hoặc con bị suy dinh dưỡng. Số đông tuy nhiên không ăn được nhưng "con vẫn bình thường" vì người mẹ đã huy động dự trữ dinh dưỡng của cơ thể mình để nuôi dưỡng thai nhi.
Những người mẹ này, sau khi đẻ thường ăn rất ngon, ăn bù, ăn như "sấm" và béo lên sau khi đẻ, có đủ sữa cho con bú mà sức khỏe mẹ vẫn bình thường.
+ Mẹ không có điều kiện để ăn thêm:
Có thể vì kinh tế, có thể vì một số thành kiến không đúng (như sợ thai to khó đẻ, kiêng khem vô lý, sự hắt hủi của gia đình, thậm chí sự hy sinh nhường nhịn của bà mẹ).
Trong trường hợp này có một số ít người mẹ thiếu ăn mà thai nhi vẫn lớn.
Lý do là cơ thể người mẹ khi có thai đã huy động mọi dự trữ dinh dưỡng để nuôi thai. Tuy vậy, những trường hợp này khi đẻ con, con có thể nặng trên 2500g nhưng mẹ thì suy sụp sức khỏe (do thiếu máu trầm trọng) dễ bị thưa xương (do cơ thể mẹ phải huy động chất canxi và phốtpho tạo xương cho con), đẻ xong dễ bị băng huyết và những tai biến khác. Sau khi đẻ nếu không bồi dưỡng kịp thời có thể chết vì suy nhược cơ thể.
Vì thế khi có thai, nhất thiết mỗi người mẹ phải ăn thêm dù chỉ là một bát cơm, (100g gạo cung cấp 350kcal), thêm ít rau, ít thịt... để tăng cường sức khỏe. Dù thiếu thốn cũng nên bằng cách này cách khác bổ dưỡng cho mẹ khi có thai nhất là trong 3 tháng cuối và giai đoạn cho con bú 6 tháng sau khi đẻ. Ba tháng cuối thai lớn nhanh (trọng lượng thai tăng gấp đôi 6 tháng đầu) và hoàn chỉnh các tổ chức của cơ thể để chuẩn bị ra đời, sống độc lập, đòi hỏi cơ thể người mẹ thời kỳ này phải hỗ trợ tích cực, tạo điều kiện đặc biệt cho thai phát triển.
Chú ý:
Bất đắc dĩ người mẹ không ăn thêm được thì chú ý điều quan trọng nhất là phải nghỉ ngơi, bớt lao động nặng hoặc những công việc không cần thiết. Ðiều này có ý nghĩa không kém gì việc ăn uống thêm hàng ngày. Và cũng có tác dụng nhất định trong việc phòng chống suy dinh dưỡng.
Người mẹ được nghỉ ngơi không có nghĩa là hoàn toàn không làm việc gì, mà chỉ giảm bớt cường độ lao động tử tháng thứ 7, và trong tháng thứ 9 có thể nghỉ hẳn lao động nặng. Chỉ làm các công việc nhẹ và ít hao sức lực, nghỉ cả những việc lao động trí óc căng thẳng.
Quan trọng nhất của nghỉ ngơi tháng cuối cùng là:
- Ðể cơ thể mẹ tập trung sức lực dành cho thai phát triển hoàn chỉnh. Cơ thể mẹ dự trữ sức lực, dự trữ tiềm năng cần thiết cho khi đẻ.
- Hạn chế tiêu hao năng lượng (dù không được ăn thêm, hoặc không thể ăn thêm với mức ăn bình thường) thì với những dự trữ sẵn cũng đủ: cho những đòi hỏi cao của thai lúc này.
Tác dụng của thời gian nghỉ này, giúp thai khoẻ, mẹ khỏe, tránh những bất thường trong tháng cuối và hạn chế tai biến xảy ra khi đẻ.
Nghỉ trước khi đẻ là nghỉ vì con, vì trách nhiệm bảo vệ thai chứ không phải đơn thuần chỉ vì mẹ.
Ðể theo dõi sự phát triển của thai, cũng như để xem xét chế độ ăn uống của người mẹ đã tốt chưa, bạn nên tuân thủ chế độ khám thai theo định kỳ ở các cơ sở y tế theo dõi cân nặng hàng tháng, đặc biệt là những tháng gần đẻ.
Khám thai đều đặn, bạn sẽ nhận được những hướng dẫn từ thày thuốc về cách bảo vệ thai, giúp cho thai phát triển tốt...
Thời điểm khám thai:
- Trong sáu tháng đầu, bạn nên khám thai mỗi tháng một lần, hoặc ít nhất ba tháng một lần để theo sát sự phát triển của thai xem thai khỏe hay yếu mà có kế hoạch chăm sóc bồi dưỡng kịp thời cho người mẹ (điều chỉnh chế độ ăn uống, nghỉ ngơi...); cũng như để phát hiện kịp thời những bệnh mới lây nhiễm mới phát sinh trong thời kỳ mang thai (lao, thiếu máu...).
- Ba tháng cuối nên khám thai mỗi tháng một lần. Tốt nhất tháng thứ chín, gần sinh, nên khám tuần một lần để biết được sức khỏe của thai và tiên lượng cuộc sinh đẻ, dự phòng những tai biến có thể xảy ra... dự kiến sát ngày sinh giúp cho người mẹ thể chủ động được phần nào cuộc sinh nở của mình.
Những điều cần tránh
Suốt thời kỳ mang thai, trong ăn uống, người mẹ luôn nhớ là không nên kiêng khem một cách vô lý. Kiêng khem quá làm cơ thể thiếu chất dinh dưỡng gây thiếu máu, đẻ non, con nhẹ cân, thậm chí còn nhiều tai biến khác.
Trong thời gian mang thai, hầu hết những thức, đồ uống... bạn ăn vào đều có ảnh hưởng đến, con bạn. Bên cạnh những loại thức ăn bạn cần ăn như trên, còn có một số loại bạn cần tránh vì nếu ăn vào sẽ gây hại cho con bạn, hoặc cũng không giúp ích gì cho sức khỏe của bé, mà lại gây tăng cân quá nhanh ở bạn, cũng là hiện tượng không tốt (ăn quá nhiều các loại bánh kẹo, đường, khoai chiên ròn, bánh quy...).
Nếu bạn thấy tăng cân quá nhanh và nhiều, cần phải đến thầy thuốc khám ngay, đề phòng những tai biến...
+ Các chất tanh: (cá, tôm, cua, sò, ốc, hến...).
Trước đây một số người kiêng chất tanh (cá, trứng), bởi chất tanh, nhất là ở cá thường kèm theo là sự ươn thiu nhanh cùng ruồi, nhặng nên rất dễ gây thiễm khuẩn, đặc biệt là ở các vùng nông thôn xa xôi thực ra, với phụ nữ có thai, trong chế độ ăn ống hợp lý, không cần kiêng hoàn toàn chất tanh, đặc biệt là cá, (vì đây là nguồn prôtêin qúy, dễ tiêu hóa hấp thu) nhưng nên chú ý với các loại cua, sò, ốc, hến, cá ngừ... dễ gây dị ứng nên chỉ ăn có mức ) và chú ý tới tiêu hóa.
Tốt nhất với thức ăn có chất tanh nên rất chú ý chất lượng thực phẩm, tới khâu bảo đảm vệ sinh chế biến (kho nấu kỹ). Kiên quyết đổ bỏ khi thực ẩm đã ươn ôi, đồ ăn đã thiu.
+ Các loại thịt gây đầy, lâu tiêu. Thịt trâu, thịt chó, ba ba... là những thức ăn nên hạn chế với phụ nữ có thai vì đó là những thức ăn gây đầy, lâu tiêu ợ nóng, không tốt cho tiêu hóa.
+ Các loại gia vị như ớt, tiêu, tỏi, giấm, hành, gừng nên ăn vừa phải. �n nhiều gừng, giấm có khả năng làm cho đứa trẻ bị vàng da, có thể dẫn đến tổn thương ở não (đó là kinh nghiệm dân gian).
+ Các loại đồ hộp (thịt hộp, cá hộp, cà chua, dưa chuột, dứa hộp) để lâu hoặc quá hạn dễ gây rối loạl tiêu hóa.
+ Các loại thực phẩm có chất màu phụ gia không đúng tiêu chuẩn, không có giá trị dinh dưỡng mà cơ thể là các chất gây độc hại cần hạn chế. Nên ăn cá loài có màu từ thực vật.
+ Với vitamin A (dược phẩm). Vitamin A là loại vitamin có vị trí rất quan trọng đối với cơ thể con người, đặc biệt với trẻ nhỏ và cả thai nữa. Tuy vậy do tính chất "hai mặt" của vitamin A nên khi sử dụng phải rất thận trọng, phải có chỉ định của thầy thuốc. Ðáng tiếc là có một số bà mẹ do không hiểu rõ cứ tưởng uống vitamin A là tốt, nên khi có thai lại uốn vitamin A liều cao. Ðã không cần thiết lại gây hại vì vitamin A liều cao có thể gây nên các rối loạn khi tạo thai và có thể cả quái thai.
Nhu cầu vitamin A với phụ nữ có thai chỉ cần 2-3mg/ngày (50g. gan/1 ngày là đủ).
Do đó loại vitamin A 200.000 đơn vị chỉ cho người mẹ uống sau khi đẻ trong vòng 1 tháng. Sau đó không được uống. Tốt nhất, để bổ sung vitamin A cho cơ thể vẫn phải là từ nguồn thức ăn giàu vitamin A (gan cá thu, trứng...); các loại quả có nhiều tiền vitamin A (gấc, cà rốt, đu đủ...).
+ Các chất kích thích mạnh. Là những chất bạn phải rất chú ý kiêng như: trà đặc, cà phê, rượu bia, thuốc lá. Bởi những chất kích thích đều có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển thần kinh của thai (ngay thời kỳ cho con bú, nếu bạn dùng các chất kích thích, đứa con khó ngủ yên giấc và hay giật mình).
Ðặc biệt với thuốc lá, các bà mẹ tương lai hãy cảnh giác trước những lời khuyến cáo của các nhà khoa học trên thế giới.
Hút thuốc lá là một sự đầu độc cực kỳ nguy hiểm, gây tổn thất lớn cho cơ thể phụ nữ (do đặc điểm sinh học của cơ thể cũng như do khói thuốc lá chứa những chất đặc biệt độc hại như: chất đồng pholonium 210...). Với phụ nữ có thai, thuốc lá vô cùng nguy hiểm cho thai (bởi khả năng bảo vệ và thích nghi ở trẻ em kém hàng chục lần so với người lớn). Nếu nghiện nặng, thật khó tránh khỏi những hậu quả do thuốc lá gây ra:
- Sảy thai và tỉ lệ trẻ chết chưa sinh cao.
- Cân nặng trẻ sơ sinh kém từ 7-8 % (so với các trẻ có mẹ không nghiện hút) và 1/4 trẻ sơ sinh chết trong tuần đầu tiên.
- Sự chuyển hóa chất Protéin ở thai bị rối loạn làm chậm sự hình thành xương và tổng hợp các chất cần cho sự sống (do chất độc từ cơ thể người mẹ - cứ 5 giây - truyền đến đường máu thai, tích tụ lại trong các mô đầu, tim, thận, hạch).
Ðặc biệt nếu người mẹ hút thuốc nhiều 2-3 tuần đầu sau khi thụ thai thì hệ thần kinh trung ương của phôi bị ảnh hưởng nhiều nhất (thời kỳ hệ thần kinh được hình thành), còn trong tuần thứ 4-5 hệ thống tim mạch được hình thành sẽ bị nhiễm độc đầu tiên.
- Gây chứng thiếu máu ôxy (máu thai sẽ đọng lại một lượng ôxy các bon gấp 2 lần trong máu mẹ). Không thể không dẫn đến sự kém cỏi trí năng ở đứa trẻ sau này.
- Mở đường cho những bệnh viêm, đặc biệt bệnh phổi và thương tổn nặng đến gan (do thừa hưởng từ người mẹ một enzym đầy nicôtin).
- Nảy sinh tật bẩm sinh về tim ở trẻ, mở đường cho sự phát triển sớm quá trình xơ vữa động mạch...gây những yếu kém về di truyền có khi đến thế hệ thứ 2-3 sau này.
Sưu tầm Cẩm nang dinh dưỡng - Việt Nam Net
0 Response to "Chất dinh dưỡng cần thiết của người mẹ trong thời kỳ mang thai"
Đăng nhận xét